Lượt truy cập
412289

Đền thánh mẫu Thái hậu Ngô Thị Ngọc Dao - Di tích Văn hoá Đồng Phang

Đền Thánh mẫu còn có tên là Phủ Nhì, toạ lạc trên khu đất chừng 5 mẫu. Phía Tây (Tây Nam) nằm liền kề với dòng sông Cầu Chày (còn có tên gọi Lường giang hoặc Chùy Giang thuỷ) bờ tả ngạn, qua khu Điện thị (chợ Đền- hay chợ Nhì) rộng khoảng 5 sào trung bộ. Bao quanh khu Đền là ruộng lộc điền vua ban, cây cối râm mát che phủ và hoa màu tươi tốt quanh năm.



Di tích:Từ Đường Phúc Quang, Được xếp hạng cấp Quốc Gia ngày 11/9/1995

Phía Bắc là núi Si, phía Nam là núi  Cẩu sơn (Núi Nội), phía Đông là Núi Nhì ( còn gọi là Núi Quan Yên). Với thế Tam Sơn như voi nằm, Hổ phục chầu về đồng Phang tức Động Bàng - Định Hoà bây giờ.

            Như vậy tạo thế chân vạc, Đồng phang vững bền như bàn thạch. Khu Đền mẫu và Phúc Quang Từ Đường nằm giữa 2 làng Nhất - Nhì (Thung Thượng, Thung Thôn). Phía nam, giáp Thung Thôn làng Ngõ Phủ, giáp với Phủ nhà Lê hướng đông nam. Nhìn hướng Tây nam, chưa đầy 100m là đình làng Thung thôn.

            Phía Bắc giáp Thung thượng liền kề là Ngõ Đền chạy hướng Đông - Tây theo đường chim bay chừng 100m, hướng Tây bắc là đình làng Thung thượng nằm sát bờ sông cầu chày và phía trong một chút là chùa Thiên phúc nằm cạnh hón nước mạn bờ bắc thuộc địa Phu liễn là đền thờ công chúa Ngọc Phương.

            Quần thể Di Tích văn hoá Đồng Phang (Định Hoà) mà trung tâm là Đền thờ Thánh Mẫu Ngô thị Ngọc Dao, theo lối kiến trúc phương Đông và mang đậm dấu ấn văn hoá thời Lê, thời phong kiến Việt Nam hưng thịnh. Quần thể di tích này một trong những địa danh được tôn kính và ngưỡng mộ, chỉ đứng sau Lam Kinh một bậc trên đất xứ Thanh. Thời xưa ai đi qua đất này điều phải xuống ngựa ( bất kể quan hay dân) từ  "Thượng Đắc trí đến hạ Bái Càn " điều phải xuống đi bộ rắc ngựa.

            Ra đời cách đây gần 600 năm khu Đền phủ cũng trải lắm bước thăng trầm. Theo Đại Việt sử ký toàn thư" của Lê Văn Hưu" "Lịch triều hiến chương" của Phan Huy Chú, "Lam sơn thực lục " của Nguyễn Trãi, và "Tộc phả họ Ngô" chúng tôi xin cung cấp một số tư liệu có liên quan đến khu di tích lịch sử, mong được các cấp hữu trách cứu xét.

            Năm Mậu Thân (1428) Lê Lợi bình đinh giặc Minh, tức vị Đế nghiệp, sau 10 năm, bên đại phong công thần trong đó có cha con Ngô Kinh, Ngô Từ có công cất giữ quân lương, ví như Tiêu Hà thời Hán Cao Tổ, phong Ngô Kinh Thái Quốc Hưng Quốc Công, Ngô Từ Thái phó Trương khánh công và ban cho Quốc tính (họ vua). Đến thời Lê thánh Tông  lên ngôi, thu nạp Ngô Thị Ngọc Xuân  (con gái Ngô Từ) làm vương phi sau đó lại thu nạp em gái Ngọc Xuân là Ngô Thị Ngọc Dao vào cung làm Tiệp dư tại cung Khánh phương, sinh ra Lê Tư Thành, sau này lên ngôi vua là lê Thánh Tông thuần hoàng đế, sau đổi niên hiệu là Hồng Đức. Đến năm thứ 9  Quang Thuận, Thánh Tông cho xây Thừa Hoa Điện, tại đất Đồng Phang, ngoại tổ để phụng sự Mẫu Hậu mỗi khi về thăm quê ngoại.

            Việc xây cất từ đường và Đền thánh mẫu liên quan đến câu chuyện luân bàn về địa mạch Đồng Phang giữa tướng Hoàng phúc (quân Ngô) cũng là nhà phong thuỷ kinh lược , với Dụ vương NgôTừ. Theo Hoàng phúc: Địa mạch ở Dao Châu (Tức nước Đại Việt) rất  quý. Nhưng duy chỉ có đất Đồng phang là nơi cát địa " Chúng thuỷ hợp lưu" (nơi dòng nước hợp lại như bàn tay tiên) "Bát phong bất động" ( Tám hướng gió không lay động). Tinh thể viết : "Nhất tự tinh văn chương đệ nhất"- Văn chương hàng đầu, kết vào huyệt mộ là " Kỵ long cách"- Tức cưỡi rồng.

Quân như xuyên đắc kỵ long huyệt

Bách tử thiên tôn phi lãng thuyết

Kỵ long chi huyệt, phúc chi khinh

Thế đại phú quý vô hứa yết

(Tam dịch: ở trên thế đất cưỡi rồng thì con cháu đời đời hưởng phúc lộc)

Và:

Đồng phang chi mạch

Thượng thấu long tuyền

Nghịch khê nhiễu huyệt

Tại thiên hương biên

(Tạm dịch : Trên trời, duối trời đều ghi rõ Đồng phang là đất tốt).

           Đất này, từ "Càn" chuyển sang " Canh ", chuyển "Đinh " thành " Đinh long cách", lại chuyển giáp "đến ": "Canh ", kết tại toạ "Canh " hướng "Đinh", Vậy là "nhất tự lâm giang", tốt lắm sao  ?

           Đất này "Kim  quy cư đoài " ( Tức rùa vàng ở cung đoài), tất có hoàng hậu sinh Thái tử . Đó là đất " Phong tàngkhí tụ", được thổ tinh dẫn mạch . "Thổ vượng điền ngưu". (ruộng lắm trâu nhiều). v.v...

           Luân bàn về mạch đất Đồng Phang đã cách đây gần 600 năm rồi, chúng ta đã từng chiêm nghiệm, có thể tin và không tin, nhưng dẫu sao cũng cho mỗi chúng ta suy ngẫm về một thời lịch sử đáng nhớ.

          Vậy đất Đồng Phang là đất ngoại tổ của các thời vua Lê (Kể từ đời vua Lê Thái Tông). Tỏ lòng tri ân ngoại Tổ, từ thời Lê thái Tông Văn hoàng đế (1434) đến đời Lê Thánh Tông thuần hoàng đế (1460) đã ra chiếu cho xây cất thánh thất, từ đường để tôn thờ ngoại tổ tại đất Đồng phang, Phúc quang từ đường phụng thi tiên tổ họ Ngô, được xây dựng từ thời Lê Thái Tông hoàng đế, trong đó Ngô Từ  (bố vợ vua) được tôn thờ chính điện. Vậy nên ngày 8 - 3 thường niên, họ Ngô khắp miền về làm giỗ tổ, chính là ngày Húy nhật Ngô Từ.(Phúc Quang Từ Đường 3gian, xây cạnh  cung Đệ nhất- Theo sơ đồ phả họ Ngô)

            Đền thờ Thánh mẫu Quang thục thái hậu Ngô Thị Ngọc Dao, còn có tên,Thừa hoa điện.

             Năm thứ  9 Quang thuận tức năm Mậu tý ( 1468 ), Lê Thánh Tông (Con trai Ngô Thị Ngọc Dao) cho xây Thuân mậu đường tại Đồng bàng hương (Tức Đồng phang - Định Hoà) để phụng dưỡng mẫu hậu mỗi khi về thăm quê ngoại.

           Đến năm Quý tỵ, niên hiệu Hồng Đức thứ 4 (1473 ) tháng 2, từ Thăng long vua ngự về Tây kinh (Lam sơn) bái yết Lăng miếu tổ tiên sau đó về đất Đồng phang viếng thăm quê ngoại. Trong chuyến viếng thăm này, Lê thánh Tông đã cho xây lại Thuần mậu đường và cải tên thành Thừa Hoa Điện với quy mô mà ta đã biết.Đó là cung Đệ nhất.

         Theo Việt sử thông giám cương mục, tháng 2 năm Bính thìn (1496) Hoàng Thái Hậu sau khi viếng Lăng trở về quê ngoại nghỉ ngơi tại Thừa Hoa Điện, không may trúng phong ngã bệnh, đã băng tại Điện Thừa hoa , tháng 2 nhuận, ngày 26, giờ hợi (Tháng 2 nhuần được coi là tháng 3) thọ 76 tuổi . Thi hài được đưa về Vĩnh Lang an táng.

          Từ đó Thừa hoa điện đổi thành Đền thờ Thánh mẫu, hàng năm ngày 26 tháng 3 là ngày huý nhật; 4 giáp 6 làng Đồng phang hương khói thờ phụng.

Vài nét về Quang thục thái hậu Ngô Thị Ngọc Dao.

          Thái hậu là con gái Dụ Vương Ngô Từ, đứng hàng 17 trong 19 người con của Dụ Vương.

          Sinh ra trong một gia đình vương hầu khanh tướng, thừa hưởng một nền giáo dục gia giáo theo khuôn vàng thước ngọc của Đạo Khổng - Tử, nên lớn lên trở thành một cô gái nết na hiền dịu, khuôn mẫu của người con gái Việt Nam: Công - Dung- Ngôn -Hạnh (Tứ đức).

          Theo chị về kinh thành Thăng long Ngô Thị Ngọc Dao người con gái nết na thuỳ mị, xinh đẹp được đưa vào Điện Khánh Phương làm Tiệp dư và trở thành Hoàng hậu vua Lê Thánh Tông.

        Vì sự ghen tỵ trong cung cấm, khi mang thai Lê Tư Thành (Tức là vua Lê Thánh Tông) bọn cung phi tìm cách hãm hại Ngọc Dao. Được mưu thần Nguyễn Trãi và vợ là Nguyễn Thị Lộ che chở giúp đỡ, mà bà Hoàng đã được bình an sinh nở.

        Tuy là Thái Tử, nhưng từ khi sinh ra Lê Tư Thành được mẹ dạy dỗ từ cách ứng xử đến chữ nghĩa văn chương cùng võ nghệ. Tư chất thông minh của Lê Tư Thành càng ngày càng được hiển lộ của một bậc đế vương.

         Lê Thánh Tông Nguyên long băng hà (1439), Bang cơ Lê Nhân Tông lên thay vì đến năm 1459 và sau đó là Lê nguỵ Dân hiệu Thiện Hung lên thay. Trong lúc triều đình rối loạn, sóng gió, những kẻ trung thần đã đưa Lê Tư Thành lên làm vua vào năm 1460 và sau này trở thành một vị hoàng đế anh minh tài giỏi, mà sử sách gọi là thời Hoàng Kim Hồng Đức.

        Dù là Hoàng Hậu hay Mẫu Hậu, trước sau bà Ngô Thị Ngọc Dao vẫn là người mẹ hết lòng vì con, vì giang sơn xã tắc, đem cái tâm vì thập loại chúng sinh.

        Sau khi qua đời, bà được thờ tại Thừa Hoa Điện (quê tổ ) và từ đó Thừa Hoa điện trở thành Đền Thờ Thánh Mẫu với 2 chữ vàng " Mẫu Nghi" ( người mẹ thiên hạ) và 2 câu đối lưu truyền.

        Trong một gia đình 19 người con, trong đó 11 trai (9 công tước, 2 hầu tước) 8 gái (6 quốc mẫu, 2 quân phu nhân), bà Ngô Thị Ngọc Dao sứng đáng được tôn vinh và thờ phụng theo nghi thức trọng thị Cung đình.

          Như ttrên đã nói, toàn bộ khu Đền, trong đó có Phúc quang Từ đường có diện tích 5 mẫu, khu ngoài Nghi Môn là 5 sào là khu đất chợ Đền giáp bờ sông Cầu chày.

         Toàn bộ ngôi Đền gồm 3 cung xây dựng theo kiến trúc cổ phương đông. Với những mái cong trạm khắc hình rồng. Đó là một công trình kiến trúc cổ kính, hoành tráng, độc nhất vô nhị, trong một không gian " Nội công ngoại quốc".

Mạt bằng kiến trúc , ta có thể hình dung (có phụ bản kèm theo).        Trên mặt bằng, ta có thể nhận ra: hai chữ công (I) nối nhau thành chữ vương (    )

* Cung đệ nhất:

           Cung đệ nhất gọi là điện chính ( Thừa Hoa Điện) còn gọi là chính tẩm là công trình kiến trúc độc đáo: Tất cả đều làm bằng đá: Cột - Kèo, hoành ngang, đoàn bẩy, tường bao, .... Tất cả  đều từ loại đá quý chế tác mà ra. Trừ dui mè bằng gỗ lim và ngói hài lợp trên trang trí... còn lại toàn bằng đá.

            Chính tẩm gồm 3 gian, mỗi gian 2 m, lòng nhà rộng 3,5m, hè rộng 1m trong nhà, ngoài hiên, lát bằng đá trắng. Riêng 3 bộ cửa lớn nằm trên địa thu bằng đá, làm bằng gỗ lim , bốn cánh bức bàn, được sơn son thếp vàng.

             3 gian chính tẩm là 3 bệ thờ đá tam cấp.

Gian giữa thờ Quang Thục Thái Hậu, 2 gian bên, bên tả thờ cha (Ngô Từ), bên Hữu thờ Vua (Con - Lê Thánh Tông ).

            Chính điện trên cao treo bức Hoành Phi lớn (Nay còn giữ được ) Sơn son  thếp vàng với 2 chữ " Mẫu Nghi" Hai cột chính treo câu đối.

Uy chấn cửu châu thiên hạ mẫu

Danh bằng tứ hải địa trung tiên

Tạm dịch: Nỗi tiếng chín châu là mẹ Thiên hạ

Vang lừng bốn bể là tiên đất trời

           Trong Điện thờ gồm nhiều đồ thờ:  Ngai, bài vị, lư hương bát hương đồng, Lộng tán che trên, hai hạc lớn canh hàng bát bửu (thể hiện uy quyền).

          Tóm lại với lối kiến trúc độc đáo và những nét chạm trổ trên đá hết sức tinh xảo, giàu tính truyền thống Á đông, Điện Chính được coi là một công trình kiến trúc độc nhất vô nhị. Rất tiếc công trình đã bị phá huỷ vì những lý do khác nhau.

           Nối cung đệ nhất với cung đệ nhị là nhà Cầu rộng là nơi các cung văn cô đồng hầu bóng.

* Cung đệ nhị : 5 gian, mỗi gian rộng chừng 2,3m, được làm toàn bằng loại gỗ quý. đây là nơi Hành lễ, gian giữa bầy 2 lớp hương án phụng thờ các Công thần. Trong năm, các ngày mùng 8 -3, 25 - 3 và 16 tháng giêng, là ngày lễ trọng theo nghi thức Cung đình.

 * Cung đệ Tam : Gồm 7 gian lớn, mỗi gian 2,8m, ngoài ra còn 2 dĩ, mỗi dĩ cũng tới 3m, chiều dài tới gần 20m. Cũng như cung đệ nhị, cung đệ tam được làm bằng các loại gỗ quý và cũng được chạm trổ trên các xà, hoành, kẻ chuyền, câu đầu, thượng lương theo các nhóm tứ linh.

              Bẩy gian bỏ trống, sát hồi hai bên dựng những tấm bia lớn ghi lại công Đức của những bậc công thần và những người có công xây đền.

            Cung Đệ Tam là nơi chuẩn bị hành lễ của các quan chức củau Triều đình. Hai bên , bên hữu là chiếc chuông lớn, bên Tả là khánh đá to. Chuông khánh chỉ được nổi lên khi các quan hành lễ.

           Hai bên cung, còn có 2 dĩ, tức 2 nhà chờ giành cho khách hành hương.

           Khu Đền được hoàn tất năm Tân Mão (1471) Niên hiệu Hồng Đức thứ hai Triều Lê Thánh Tông. Và năm 1473 Đền thánh mẫu được trùng tu.

           Sau khi Quang Thục Thái Hậu mất (1496 ), Lê Thánh Tông ra chỉ: Dao cho 6 thôn 4 giáp Đồng phang với 30 mẫu lộc Điền phụng thờ, hương khói, lấy ngày 26 - 3 là ngày Kỵ Mẫu, để con cháu và các con dân nhớ ngày kỵ về dâng hương tưởng niệm tại Đồng Phang.

           Và còn sắc chỉ:

           26 -3 là ngày quốc giỗ, vậy ngày này, bộ Lễ triều đình đứng ra làm chủ tế theo nghi thức cung đình tại đền Đồng Phang.

          Lại nữa: Sắc cho Đồng phang và vùng lân cận 25 - 3 và ngày 16 tháng giiêng hàng năm tổ chức rước bóng Thái hậu từ cáo giếng về Đền, để mọi người cùng được tri ân Công đức.

          Theo lệ hàng năm lễ hội Kỵ Đền được các quan chức triều đình tiến hành nghi lễ từ ngày 23 đến 26/3. Trong những ngày này, con cháu họ Ngô, khách thập phương khắp nơi, khắp miền lũ lượt kéo về Đồng Phang dâng hương dự hội. Đặc biệt là ngày 25/3 là ngày lễ  trọng, có tế lễ, cung văn hầu bóng, cùng các lễ nghi do quan chủ tế triều đình đứng ra hành lễ. Và ngày 26/3 cũng là ngày đóng cửa đền vào giờ ngọ.

          Lệ tế xuân, rước bóng ngày 16 tháng giiêng được tổ chức rất trang trọng. Khiêng kiệu là những thôn Nữ Tân được chọn lọc trong 4 giáp. Khắp nơi đổ về đứng chặt đường  đón từ Cáo giếng về Đền. Trong ngày này 4 giáp điều có 4 kiệu theo hầu rước bóng về phủ và sắm đồ lễ thịnh soạn dâng lên Thánh Mẫu.

          Kỵ Đền 26/3 là một lễ hội lớn truyền thống. Đó là sự tôn vinh đức hạnh của những bậc thánh, đặc biệt về công đức, phẩm hạnh của thái hậu Ngô Thị Ngọc Dao.

Sau những năm chiến tranh và những sự cố khác, khu Đền mấu không còn.

          Mặc dù vậy, với tấm lòng nhớ về cội nguồn. Đảng, Chính quyền, nhân dân Định Hoà đã bỏ nhiều tiền của, công sức cho xây dựng lại một số hạng mục của khu Đền. Tuy chưa được khang trang như mong muốn, nhưng phần nào cũng báo đáp công ơn của những bbậc Tiền Nhân và lòng ngưỡng mộ của nhân dân trong xã cũng như khách thập phương trong khắp miền đất nước.

         Với tầm cỡ của khu di tích và cũng là nguyện vọng chung của nhân dân, ngày mùng 9- 01 - 1993 sở văn hoá thông tin thanh hoá đã có quyết định số 55 VHCĐ, công nhận .

         Đền thờ Ngô Kinh, Ngô Từ và Hoàng Thái Hậu Ngô Thị Ngọc Dao xã Định Hoà là di tích lịch sử văn hoá cấp Tỉnh. Ngày 11/9/1995, Bộ Văn hoá - Thông tin có quyết định 2861/QĐBT công nhận Di tích lịch sử Từ Đường Phúc Quang, xã Định Hoà cấp nhà nước.

             Từ ngày được công nhận quần thể Di tích đồng Phang đã được Đảng, Chính quyền và nhân dân Định Hoà bỏ nhiều công sức phục hồi, tôn tạo. Nhưng lực bất tòng tâm, hiện khu Di tích cũng mới là chấp vá, chưa hoặc không đúng tầm với kiến trúc vốn có trước đây.

            Từ năm 2000 trở lại đây, từ chủ trương đúng đắn, được nhân dân đồng tình ủng hộ khu di tích hiện nay được mở rộng và đang từng bước sửa sang tôn tạo.

          Xét về tầm vóc kiến trúc và ý nghĩa lịch sử, toàn bộ đền thờ (3 cung) là chủ thể của khu Di tích lịch sử văn hoá Đồng phang

          Phúc quang Từ đường đã được Bộ văn hoá công nhận  cấp bằng Di tích lịch sử, là nhà thờ được xây dựng tách biệt, tôn thờ liệt vị họ Ngô.

          Vì vậy Đền thờ Thái Hậu được coi là Di tích lịch sử độc lập ( Như đã trình bầy).

          Nhân dân Định Hoà, hy vọng sẽ được các cấp có thẩm quyền, đặc biệt là Ban quản lý Di tích và danh thắng xem xét, thẩm định công nhận Di tích lịch sử văn hoá. Đền Thánh Mẫu Ngô Thị Ngọc Dao thuộc xã Định Hoà chúng tôi. 

                                                                       Lê Minh Chiểu,  Trưởng phòng VH&TT

 
Thông báo
Thư viện ảnh
  • Thăm dò ý kiến
  • Bạn thấy nội dung trên Cổng thông tin Huyện Yên Định như thế nào?

  • Video